Chuyển đổi số là vấn đề mới ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, chuyển đổi số bắt đầu được đánh dấu khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia vào năm 2020. Đến nay, những vấn đề lý thuyết cơ bản về chuyển đổi số vẫn chưa thực sự thống nhất trong hoạt động nghiên cứu và quản lý. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ một số nội dung về khái niệm, ý nghĩa, xác định những điều kiện bảo đảm thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước hiện nay.
Ý nghĩa của chuyển đổi số đối với hoạt động quản lý nhà nước

Thứ nhất, tiết kiệm chi phí, thời gian.Chuyển đổi số giúp cơ quan nhà nước giảm được chi phí vận hành, tiết kiệm thời gian đối với quy trình thực hiện các công việc thường xuyên. Khi các quy trình giải quyết công việc được vận hành ổn định trên môi trường công nghệ số, lãnh đạo có thể ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn, nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời, tối ưu hóa được năng suất làm việc của công chức, làm tăng hiệu quả hoạt động và nâng cao tính chuyên nghiệp của cơ quan, công chức.
Chuyển đổi số góp phần giảm bớt thời gian, chi phí cho người dân khi họ có nhu cầu thực hiện dịch vụ công, giúp cho hoạt động cung ứng dịch vụ của cơ quan nhà nước không chỉ đáp ứng kịp thời nhu cầu của Nhân dân, gia tăng trách nhiệm và hiệu suất làm việc của công chức, mở rộng khả năng thu hút và giữ chân khách hàng. Đồng thời, thay đổi trải nghiệm người dùng với các dịch vụ do nhà nước cung cấp; đổi mới quy trình nghiệp vụ, mô hình và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Điều đó cũng đòi hỏi sự thay đổi nhận thức, hành động của các nhà lãnh đạo để luôn có sự quyết định hướng đi đúng đắn và khả năng chuyển đổi thành công của bộ máy chính quyền nhà nước.
Những điều kiện bảo đảm thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước

Một là, công nghệ số.
Công nghệ số là bước phát triển tiếp theo của công nghệ thông tin, cho phép tính toán nhanh hơn, xử lý dữ liệu nhiều hơn, truyền tải dung lượng lớn hơn, với chi phí rẻ hơn. Công nghệ số là một trong các nhóm công nghệ chính của cách mạng 4.0; bốn công nghệ số tiêu biểu thúc đẩy CĐS là: (1) Trí tuệ nhân tạo (AI); (2) Internet kết nối vạn vật (IoT); (3) Dữ liệu lớn (Big Data); (4) Điện toán đám mây (Cloud)8
Hai là, dữ liệu số.
Dữ liệu số là dữ liệu được hình thành thông qua việc số hóa tài liệu bằng ứng dụng CNTT – quá trình hiện đại hóa, chuyển đổi các hệ thống thường sang hệ thống kỹ thuật số, như: chuyển từ tài liệu dạng giấy sang các file mềm trên máy tính; ứng dụng CNTT để số hóa các tài liệu là văn bản chính sách, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn… đã ban hành và còn hiệu lực liên quan đến từng lĩnh vực quản lý, từ đó hình thành nên dữ liệu số của cơ quan.
Khi CĐS, với việc sử dụng các dịch vụ trên nền tảng số, các cơ quan, tổ chức, công dân có thể khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung (miễn phí hoặc trả phí dịch vụ truy cập) để thực hiện các giao dịch, yêu cầu hợp pháp với cơ quan nhà nước.
Ba là, công chức số.
Công chức số là những chủ thể thực hiện CĐS trong cơ quan nhà nước nhằm phát triển chính phủ số. Để thực hiện nhiệm vụ này, họ phải được trang bị kiến thức, kỹ năng số cơ bản, cần thiết và chủ động, thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng này để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên môi trường số, như: tham mưu, tổ chức thực thi nhiệm vụ, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao trên môi trường số… Quá trình CĐS đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải xây dựng đội ngũ công chức số, thay đổi thói quen làm việc của công chức trong môi trường số.
Bốn là, công dân số.
Công dân số là những người có kiến thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết để giao dịch trên môi trường số khi tham gia các hoạt động xã hội và tham gia vào quá trình chính sách của Nhà nước, như: hình thành thói quen về giao tiếp trên môi trường mạng, mua bán trực tuyến, học trực tuyến, khám bệnh trực tuyến…
Chín yếu tố cấu thành công dân số gồm: (1) Khả năng truy cập các nguồn thông tin số; (2) Khả năng giao tiếp trong môi trường số; (3) Kỹ năng số cơ bản; (4) Mua bán hàng hóa trên mạng; (5) Chuẩn mực đạo đức trong môi trường số; (6) Bảo vệ thể chất và tâm lý trước các ảnh hưởng từ môi trường số; (7) Quyền và trách nhiệm trong môi trường số; (8) Định danh và xác thực dữ liệu cá nhân; (9) Quyền riêng tư trong môi trường số.
Việc CĐS với ý nghĩa phát triển chính phủ số, xã hội số đã đặt ra yêu cầu đối với mỗi người dân phải tự trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng số cơ bản, cần thiết và không ngừng cập nhật, bổ sung để “không bị bỏ lại phía sau”. CĐS không phải là việc riêng của cơ quan nhà nước, mà còn là việc của mỗi người dân, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống xã hội. CĐS còn mang ý nghĩa của cuộc cách mạng toàn dân. Khi toàn dân cùng tham gia CĐS, họ sẽ trở thành nhân tố phát hiện ra công nghệ phù hợp, tìm ra hoặc cải tiến cách giải quyết phù hợp theo hướng tương tác tích cực giữa cơ quan nhà nước và người dân. Sự tham gia của toàn dân là yếu tố bảo đảm sự thành công của CĐS.
Nguồn trích dẫn
Nguồn: Tạp chí quản lý nhà nước






























